Thiên thần Gabriel (Lc 1, 31):
Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà được đẹp lòng Thiên Chúa.
Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu.
Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao.
Đức Maria (Lc 1, 38):
Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.
Mẹ Maria và Thánh Giuse tìm thấy Chúa Giêsu 12 tuổi trong đền thờ (Lc 2, 48-49):
Con ơi, sao con lại làm cho cha mẹ như vậy? Kìa, cha con và mẹ đã phải cực lòng đi tìm con!
Chúa Giêsu đáp lại:
Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?
Đến khi trạc 30 tuổi, Chúa Giêsu chịu phép rửa bởi Gioan tại sông Giođan,
Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình chim bồ câu và có tiếng từ trời phán (Mt 3,17):
“Đây là Con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về Người”.
Được đầy Thánh Thần, Đức Giêsu rời sông Giođan và được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa suốt 40 ngày, chịu đựng ma quỷ cám dỗ.
Trong những ngày ấy, Người không ăn gì cả và khi hết thời gian đó, thì Người thấy đói.
Tại một tiệc cưới ở Cana, khi rượu đã hết, Đức Maria nói với Chúa Giêsu (Ga 2, 1-11):
Họ hết rượu rồi.
Chúa Giêsu đáp lại:
Thưa mẹ, chuyện đó can gì đến mẹ và con? Giờ của con chưa đến.
Dù vậy, Người đã hành động. Chúa bảo các gia nhân:
Hãy đổ đầy nước vào chum.
Và họ đổ đầy tới miệng. Nước trong chum đã được biến thành rượu ngon, khiến người quản tiệc ngạc nhiên.
Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê và bày tỏ vinh quang của Người.
Đức Chúa Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường,
chữa lành người bệnh tật, trừ quỷ, kêu gọi sám hối và tin vào Tin Mừng (Mc 1, 15):
Thời kỳ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã đến gần.
Người biến hình trước mặt 3 môn đệ. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không thợ nào ở trần gian có thể giặt trắng được như vậy.
Và họ thấy có Êlia cùng Môsê hiện ra đàm đạo với Đức Giêsu (Mc 9, 2-7).
Bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Từ đám mây có tiếng phán rằng:
“Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người”.
Một người trong nhóm 12 môn đệ, tên là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt đi gặp các thượng tế người Pha-ri-sêu và nói (Mt 26, 14-16):
Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu.
Họ quyết định cho hắn 30 đồng bạc. Từ lúc đó hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giê-su.
Buổi tiệc ly đêm ấy, trước khi Chúa chịu chết, Người cùng các môn đệ ngồi vào bàn. Khi bữa ăn đang diễn ra, Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi bẻ ra và nói:
Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn, vì này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con.
Người cũng cầm lấy chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các môn đệ và nói:
Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống, vì này là chén Máu Thầy, Máu Giao Ước Mới và Vĩnh Cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội.
Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.
Và Người nói thêm:
Từ nay Thầy sẽ không còn uống rượu nho này nữa, cho đến ngày Thầy uống rượu mới cùng anh em trong Nước Cha Thầy.
Trong vườn Giết-sê-ma-ni, Đức Giêsu thổn thức cầu nguyện (Mt 26, 39):
Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này.
Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.
Lòng xao xuyến bồi hồi, nên Người càng khẩn thiết cầu xin.
Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất (Lc 22,44).
Các anh tìm ai?
Tìm Giê-su Na-da-rét.
Chính tôi đây.
Vậy ông là vua sao?
Chính ngài nói rằng tôi là vua.
Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật.
Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.
Sự thật là gì?
Không phải tên ấy, nhưng là Ba-ra-ba!
Phi-la-tô hỏi (Mt 27, 22):
Thế còn ông Giê-su, cũng gọi là Đấng Ki-tô, ta sẽ làm gì đây?
Mọi người đồng thanh la lớn:
Đóng đinh nó vào thập giá!
Phi-la-tô lại hỏi (Mc 15, 14-15):
Nhưng ông ấy đã làm điều gì gian ác?
Họ càng la to:
Đóng đinh nó vào thập giá!
Bấy giờ lính của tổng trấn đem Đức Giê-su vào trong dinh, và tập trung cả cơ đội quanh Người (Mt 27, 27-31).
Vạn tuế đức vua dân Do Thái!
Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.
Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!
Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!
Ông không phải là Đấng Ki-tô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!
Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!
Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!
Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín (Mc 15, 33-34).
Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng:
Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bác-tha-ni!
Nghĩa là: Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?
Mặt trời ngưng chiếu sáng (Lc 23, 45-46).
Bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ngay chính giữa.
Đức Giê-su kêu lớn tiếng:
Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.
Nói xong, Người tắt thở.
Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới (Mt 27, 51-54).
Đất rung đá vỡ. Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy.
Sau khi Chúa sống lại, các ngài ra khỏi mồ, vào thành thánh và hiện ra với nhiều người.
Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi và nói:
Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.
Chiều đến, có một người giàu có tới. Ông này là người thành A-ri-ma-thê, tên là Giô-xếp, và cũng là môn đệ Đức Giê-su.
Ông đến gặp ông Phi-la-tô để xin thi hài Đức Giê-su. Bấy giờ tổng trấn Phi-la-tô ra lệnh trao trả thi hài cho ông.
Khi đã nhận thi hài, ông Giô-xếp lấy tấm vải gai sạch mà liệm, và đặt vào ngôi mộ mới, đã đục sẵn trong núi đá, dành cho ông.
Ông lăn tảng đá to lấp cửa mồ, rồi ra về. Còn bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a ở lại đó, quay mặt vào mồ (Mt 27, 57-61).
Hôm sau, tức là khi ngày áp lễ đã qua, các thượng tế và những người Pha-ri-sêu kéo nhau đến ông Phi-la-tô và nói:
Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói: “Sau ba ngày, Ta sẽ trỗi dậy”.
Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm xác rồi phao trong dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy.
Và như thế, chuyện bịp cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước.
Ông Phi-la-tô bảo họ:
Thì có sẵn lính đó, các người hãy đi mà canh giữ theo cách các người biết!
Thế là họ ra đi canh giữ mồ, niêm phong tảng đá và cắt lính canh mồ (Mt 27, 62-66).
Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn.
Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giê-su đâu cả.
Họ còn đang phân vân, thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói, đứng bên họ.
Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói:
Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi.
Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi,
và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.
(Lc 24, 1-7)
Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn.
Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giê-su đâu cả.
Họ còn đang phân vân, thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói, đứng bên họ.
Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói:
Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi.
Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi,
và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.
(Lc 24, 1-7)