Thiên thần Gabriel (Lc 1, 31):
Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà được đẹp lòng Thiên Chúa.
Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu.
Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao.

Đức Maria (Lc 1, 38):
Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.

Thiên thần (Lc 2, 10-11):
Anh em đừng sợ! Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân:
Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành Đa-vít, Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa.
Mục đồng (Lc 2, 15-16):
Nào chúng ta sang Bêlem, để xem sự việc đã xảy ra như Chúa đã tỏ cho ta biết.
Họ liền hối hả ra đi, gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.
Ba vua (từ phương Đông) (Mt 2, 9-11):
Ngôi sao họ thấy dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở.
Họ vào nhà, thấy Hài Nhi cùng với thân mẫu Maria, họ sấp mình thờ lạy Người,
rồi mở bảo tráp dâng tiến vàng, nhũ hương và mộc dược.

Mẹ Maria và Thánh Giuse tìm thấy Chúa Giêsu 12 tuổi trong đền thờ (Lc 2, 48-49):
Con ơi, sao con lại làm cho cha mẹ như vậy? Kìa, cha con và mẹ đã phải cực lòng đi tìm con!

Chúa Giêsu đáp lại:
Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?

 

Đến khi trạc 30 tuổi, Chúa Giêsu chịu phép rửa bởi Gioan tại sông Giođan,
Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình chim bồ câu và có tiếng từ trời phán
(Mt 3,17):

“Đây là Con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về Người”.

Được đầy Thánh Thần, Đức Giêsu rời sông Giođan và được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa suốt 40 ngày, chịu đựng ma quỷ cám dỗ.
Trong những ngày ấy, Người không ăn gì cả và khi hết thời gian đó, thì Người thấy đói.

Tại một tiệc cưới ở Cana, khi rượu đã hết, Đức Maria nói với Chúa Giêsu (Ga 2, 1-11):
Họ hết rượu rồi.

Chúa Giêsu đáp lại:
Thưa mẹ, chuyện đó can gì đến mẹ và con? Giờ của con chưa đến.

Dù vậy, Người đã hành động. Chúa bảo các gia nhân:
Hãy đổ đầy nước vào chum.

Và họ đổ đầy tới miệng. Nước trong chum đã được biến thành rượu ngon, khiến người quản tiệc ngạc nhiên.
Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê và bày tỏ vinh quang của Người.

Đức Chúa Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường,
chữa lành người bệnh tật, trừ quỷ, kêu gọi sám hối và tin vào Tin Mừng
(Mc 1, 15):

Thời kỳ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã đến gần. 

Người biến hình trước mặt 3 môn đệ. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không thợ nào ở trần gian có thể giặt trắng được như vậy.
Và họ thấy có Êlia cùng Môsê hiện ra đàm đạo với Đức Giêsu
(Mc 9, 2-7).
Bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Từ đám mây có tiếng phán rằng:

“Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người”.

Một người trong nhóm 12 môn đệ, tên là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt đi gặp các thượng tế người Pha-ri-sêu và nói (Mt 26, 14-16):
Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu.

Họ quyết định cho hắn 30 đồng bạc. Từ lúc đó hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giê-su.

Buổi tiệc ly đêm ấy, trước khi Chúa chịu chết, Người cùng các môn đệ ngồi vào bàn. Khi bữa ăn đang diễn ra, Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi bẻ ra và nói:
Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn, vì này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con.

Người cũng cầm lấy chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các môn đệ và nói:
Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống, vì này là chén Máu Thầy, Máu Giao Ước Mới và Vĩnh Cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội.

Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.

Và Người nói thêm:
Từ nay Thầy sẽ không còn uống rượu nho này nữa, cho đến ngày Thầy uống rượu mới cùng anh em trong Nước Cha Thầy.

Trong vườn Giết-sê-ma-ni, Đức Giêsu thổn thức cầu nguyện (Mt 26, 39):

Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này.
Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.

Lòng xao xuyến bồi hồi, nên Người càng khẩn thiết cầu xin.
Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất (Lc 22,44).

Giu-đa tới đó, dẫn một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pha-ri-sêu, họ mang theo đèn đuốc và khí giới (Ga 18, 3-6).
Đức Giê-su biết mọi việc sắp xảy đến cho mình, nên tiến ra và hỏi:

Các anh tìm ai?

Họ đáp:

Tìm Giê-su Na-da-rét.

Người nói:

Chính tôi đây.

Giu-đa, kẻ nộp Người, cũng đứng chung với họ. Khi Người vừa nói: “Chính tôi đây”, thì họ lùi lại và ngã xuống đất.
Sau đó, người Do Thái điệu Đức Giê-su từ nhà ông Cai-pha đến dinh tổng trấn Phi-la-tô.
Phi-la-tô hỏi Người (Ga 18, 28-40):

Vậy ông là vua sao?

Đức Giê-su đáp:

Chính ngài nói rằng tôi là vua.
Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật.
Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.

Phi-la-tô hỏi Người:

Sự thật là gì?

Sau khi xét hỏi, Phi-la-tô ra gặp người Do Thái và nói rằng ông không tìm thấy nơi Đức Giê-su một lý do nào để kết án. Theo tục lệ lễ Vượt Qua, ông hỏi họ có muốn ông tha “Vua dân Do Thái” hay không. Nhưng họ lại la lên:

Không phải tên ấy, nhưng là Ba-ra-ba!

Phi-la-tô hỏi (Mt 27, 22):
Thế còn ông Giê-su, cũng gọi là Đấng Ki-tô, ta sẽ làm gì đây?

Mọi người đồng thanh la lớn:
Đóng đinh nó vào thập giá!

Phi-la-tô lại hỏi (Mc 15, 14-15):
Nhưng ông ấy đã làm điều gì gian ác?

Họ càng la to:
Đóng đinh nó vào thập giá!

Vì muốn chiều lòng đám đông, Phi-la-tô phóng thích tên Ba-ra-ba, truyền đánh đòn Đức Giê-su, rồi trao Người cho họ đóng đinh vào thập giá.

Bấy giờ lính của tổng trấn đem Đức Giê-su vào trong dinh, và tập trung cả cơ đội quanh Người (Mt 27, 27-31).

Chúng lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người,
và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo rằng:

Vạn tuế đức vua dân Do Thái!

Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người.
Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, và cho Người mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.
Khi điệu Đức Giê-su đi, họ bắt một người từ miền quê lên, tên là Si-môn, gốc Ky-rê-nê,
đặt thập giá lên vai cho ông vác theo sau Đức Giê-su.
Dân chúng đi theo Người đông lắm,
trong số đó có nhiều phụ nữ vừa đấm ngực vừa than khóc Người (Lc 23, 26-32).
Khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ”, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái (Lc 23, 33-43).
Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng:

Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.

Rồi họ lấy áo của Người chia ra mà bắt thăm.
Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo:

Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!

Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói:

Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!

Phía trên đầu Người, có bản án viết: Đây là vua người Do Thái.
Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người:

Ông không phải là Đấng Ki-tô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!

Nhưng tên kia mắng nó:
Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ!

Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!

Rồi anh ta thưa với Đức Giê-su:

Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!

Và Người nói với anh ta:
Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.

Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín (Mc 15, 33-34).
Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng:
Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bác-tha-ni!
Nghĩa là: Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?

Mặt trời ngưng chiếu sáng (Lc 23, 45-46). ​
Bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ngay chính giữa.
Đức Giê-su kêu lớn tiếng:
Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.
Nói xong, Người tắt thở.

Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới (Mt 27, 51-54).
Đất rung đá vỡ. Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy.
Sau khi Chúa sống lại, các ngài ra khỏi mồ, vào thành thánh và hiện ra với nhiều người.
Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi và nói:
Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.

Chiều đến, có một người giàu có tới. Ông này là người thành A-ri-ma-thê, tên là Giô-xếp, và cũng là môn đệ Đức Giê-su.
Ông đến gặp ông Phi-la-tô để xin thi hài Đức Giê-su. Bấy giờ tổng trấn Phi-la-tô ra lệnh trao trả thi hài cho ông.
Khi đã nhận thi hài, ông Giô-xếp lấy tấm vải gai sạch mà liệm, và đặt vào ngôi mộ mới, đã đục sẵn trong núi đá, dành cho ông.
Ông lăn tảng đá to lấp cửa mồ, rồi ra về. Còn ​bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a ở lại đó, quay mặt vào mồ
(Mt 27, 57-61).

Hôm sau, tức là khi ngày áp lễ đã qua, các thượng tế và những người Pha-ri-sêu kéo nhau đến ông Phi-la-tô và nói:
Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói: “Sau ba ngày, Ta sẽ trỗi dậy”.
Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến ​lấy trộm xác rồi phao trong dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy.
Và như thế, chuyện bịp cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước.

Ông Phi-la-tô bảo họ:
Thì có sẵn lính đó, các người hãy đi mà canh giữ theo cách các người biết!

Thế là họ ra đi canh giữ mồ, niêm phong tảng đá và cắt lính canh mồ (Mt 27, 62-66).

Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn.
Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giê-su đâu cả.
Họ còn đang phân vân, thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói, đứng bên họ.
Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói:

Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi.
Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi,
và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.
(Lc 24, 1-7)

Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn.
Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giê-su đâu cả.
Họ còn đang phân vân, thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói, đứng bên họ.
Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói:

Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi.
Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi,
và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.
(Lc 24, 1-7)

Bật backing track